Các bạn đang xem bài viết trong mục: Hot24h

sat-thu-vo-hinh-am-anh-cuoc-doi-jonh-f-kennedy

John F. Kennedy sử dụng nạng để đi lại trước cuộc phẫu thuật đốt sống vào tháng 10/1954. Ảnh: Boston Globe.

Trong khi các nhà nghiên cứu thuyết âm mưu đến giờ vẫn tranh luận về vụ ám sát tổng thống trẻ nhất nước Mỹ John F. Kennedy vào ngày 22/11/1963, có một “thủ phạm” khác thường không được nhắc đến: Chứng đau lưng đày đọa suốt cuộc đời ông, theo CNN.

Kennedy thường mang một chiếc áo nẹp bó chặt lưng và sau khi viên đạn thứ nhất của kẻ ám sát găm vào cổ ông, nó có thể là thứ đã khiến ông vẫn ngồi thẳng trên xe, thay vì ngã xuống, để hứng trọn viên đạn chí tử thứ hai găm vào não.

“Áo nẹp này là một chiếc đai nịt bó sát chặt quanh hai bên hông của ông ấy, phần lưng dưới và phần lưng trên”, bác sĩ Thomas Pait, nhà giải phẫu thần kinh cột sống, đồng tác giả một công trình nghiên cứu về các ca phẫu thuật lưng thất bại của Kennedy, cho biết.

“Ông ấy buộc chặt nó và đặt một miếng băng co giãn rộng xung quanh thân người theo hình số 8. Bạn có thể hình dung thế này, nếu có một chiếc áo nẹp trải rộng lên ngực bạn và bó sát, liệu bạn có thể ngã chúi về trước không?”, ông Pait nói thêm.

Đau ốm từ nhỏ

Đến năm 2002, khi nhà sử học Robert Dallek được phép tiếp cận một hồ sơ từ năm 1955 đến năm 1963, các chi tiết liên quan đến tình trạng sức khỏe của Kennedy mới bắt đầu được công khai.

Pait và bác sĩ giải phẫu thần kinh Dr. Justin Dowdy nghiên cứu các cuốn sách của Dallek, nhiều cuốn tiểu sử và tài liệu khác cũng như các bản chụp X quang tại Thư viện John F. Kennedy (JFK) ở Boston để chuẩn bị cho công trình nghiên cứu chung về các ca phẫu thuật lưng thất bại của Kennedy.

“Tôi ngạc nhiên trước mức độ trầm trọng của các cơn đau mà Kennedy phải chịu”, Dowdy cho hay. “Nó ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của ông ấy và làm sao người ta có thể che giấu phần lớn chi tiết về cơn đau này trước công chúng và chắc chắn là trước cả các đối thủ chính trị của ông?”, Dowdy cho hay.

Pait cũng đồng tình với nhận định này. “Ông ấy là một trong những tổng thống trẻ nhất và ông ấy cũng là một trong những tổng thống đau bệnh nhất. Tuy nhiên, ông ấy phải giữ bề ngoại luôn khỏe mạnh và dồi dào sinh lực vì đó là điều tối quan trọng trong chính trị”.

Là đứa trẻ ốm yếu ngay từ khi sinh ra, trong những năm tháng niên thiếu, Kennedy ra vào bệnh viện như cơm bữa vì đau bụng, đau khớp và các triệu chứng giống như sốt và bị giảm cân trầm trọng. Lúc 15 tuổi, Jack (tên thân mật của Kennedy) chỉ nặng khoảng 53 kg, theo các nghiên cứu của Dalleck.

Năm sau đó, lo sợ Kennedy có thể mắc ung thư máu, các bác sĩ bắt đầu thường xuyên kiểm tra lượng huyết cầu của ông. Sau lần xét nghiệm ở Phòng khám Mayo, bang Minnesota , các bác sĩ đưa ra một chẩn đoán khác nói rằng ông bị loét dạ dày.

“Lạy Chúa, tôi đang xuống cấp thê thảm quá. Tôi giảm 3,6 kg và vẫn còn giảm tiếp”, Kennedy viết cho một bạn học vào mùa hè năm 1934, trong lúc các cuộc xét nghiệm đang diễn ra. “Hôm qua, tôi trải nghiệm cảm giác kinh khủng nhất cuộc đời… Một ống sắt dài 30 cm và có đường kính 2,5 cm được chọc vào mông tôi”.

Mặc dù ăn uống kiêng khem, sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau, sức khỏe của Kennedy vẫn không có dấu hiệu khởi sắc. Khi đang theo học tại Đại học Harvard, ông thậm chí đã nói đùa về cái chết.

“Nhìn vào những đường điện tâm đồ của tôi ngày hôm qua, bạn có thể thấy chúng đang đo cho tôi một chiếc quan tài”, ông viết cho một người bạn.

Harvard cũng là nơi ông phát hiện một căn bệnh mới: Chứng đau lưng kinh niên. Lưng Kennedy bắt đầu đau khi ông bị truy cản ngang hông trong một trận thi đấu bóng bầu dục và sự cố này dường như đã làm tổn thương một đĩa đệm cột sống. Ông bắt đầu dùng một cái áo nẹp thường xuyên để ổn định cột sống và giảm bớt cảm giác khó chịu.

“Ông ấy bị tấn công bất ngờ bởi cú truy cản đó. Ông ấy mắc cơn đau lưng khủng khiếp từ sau sự cố này”, Pait nói.

Đau trầm trọng thêm vì cứu đồng đội

Sau đại học, cơn đau lưng và tình trạng sức khỏe kém đã ngăn Kennedy thực hiện giấc mơ tiếp theo của ông: Phục vụ đất nước trong Thế chiến II. Lục quân rồi hải quân Mỹ lần lượt khước từ ông.

Tuy nhiên, Kennedy không bỏ cuộc và nhờ những mối quan hệ chính trị của cha mình, ông được chấp nhận gia nhập hải quân vào năm 1941.

Theo Thư viện Tổng thống JFK, tàu tuần tra cao tốc PT-109 do Kennedy chỉ huy bị trúng đạn từ một tàu khu trục Nhật Bản trong đêm tối đen như mực vào ngày 1/8/1943. Hỏa lực đối phương đã xé toạc mạn phải con tàu, hất văng hầu hết các đồng đội của Kennedy xuống Thái Bình Dương.

Để vào bờ biển gần nhất, ông và các đồng đội đã phải bơi hơn 5 km. Kennedy đã kéo một trong những đồng đội bị thương vào bờ bằng cách cắn chặt quai áo phao người này mặc.

“Kennedy bơi rất giỏi… Ông ấy lớn lên cùng môn thể thao bơi lội”, Pait cho biết. “Kennedy đã dồn hết mọi sức lực còn lại để kéo người đồng đội bị thương. Đó là điều không tưởng”, Pait nhận xét.

Khuya hôm đó, Kennedy bơi trở lại chỗ tàu ông gặp nạn, đầm mình trong nước suốt một tiếng nữa khi ông tìm kiếm các tàu tuần tra cao tốc khác trong vô vọng. Vài ngày sau, ông và các đồng đội tiếp tục bơi từ đảo này sang đảo khác. Kennedy một lần nữa kéo đồng đội bị thương bằng răng cho đến khi họ được giải cứu.

Hành động quả cảm của ông đã giúp ông nhận được huy chương từ hải quân và thủy quân lục chiến. Nhưng mặt khác, hành động ấy càng khiến chấn thương lưng của ông trở nên trầm trọng hơn, có thể phải vật lộn suốt đời với chứng đau lưng.

Theo Pait, sau khi trở về Mỹ, Kennedy bị đau lưng rất dữ dội và phải giảm các hoạt động chính trị.

Quyết định trọng đại

Vì những cách chữa trị thận trọng đều thất bại và cảm thấy không thể sống chung với cơn đau lưng triền miên, Kennedy đã đưa ra một quyết định trọng đại. Không nghe lời khuyên từ các bác sĩ Phòng khám Mayo, ông quyết lên bàn mổ, trải qua cuộc phẫu thuật cột sống vào tháng 6/1944 ở bệnh viện New England Baptist tại Boston.

“Không may, cuộc phẫu thuật không diễn ra suôn sẻ. Khoảng 6 tuần sau cuộc phẫu thuật thứ nhất, cơn đau tái phát và ông rơi vào tình trạng thương tổn khủng khiếp. Vì cuộc phẫu thuật thứ nhất thất bại, ông vẫn phải chống lại cơn đau mà giờ đây sẽ hành hạ ông suốt phần đời còn lại”, Pait nói.

Pait và Dowdy đã kiếm tra các hình ảnh X quang trước và sau phẫu thuật của Kennedy. Phân tích của họ, dựa trên quan điểm từ các nhà phẫu thuật cột sống, không phát hiện bất thường nào trong khoảng trống giữa các đốt sống và không có dấu hiệu nào về một căn bệnh xương nghiêm trọng như nghi ngờ bấy lâu nay dựa vào việc Kennedy sử dụng thuốc kháng viêm steroid.

“Sử dụng thuốc kháng viêm steroid trong thời gian dài có thể gây ra bệnh về xương nhưng chúng tôi không thấy thuốc kháng viêm được sử dụng đến mức khiến xương bị tổn hại như vậy. Theo tôi, không có bằng chứng nào cho thấy ông ấy bị rạn xương”, Pait đánh giá.

“Tất cả chúng ta đều đau lưng và hầu hết chúng ta sẽ bình phục mà không cần đến phẫu thuật. Liệu bệnh của Kennedy có giống với kiểu đau lưng thường thấy đó? Thật khó để kết luận. Đau lưng là căn bệnh rất phức tạp và rất khó điều trị. Tôi nghĩ ông ấy cuối cùng rồi cũng sẽ chấp nhận một cuộc phẫu thuật như ông ấy đã trải qua vì ông ấy có những giấc mơ và không muốn chịu đựng cơn đau hành hạ”, Pait suy luận.

Kennedy đã bày tỏ thất vọng về kết quả phẫu thuật. “Tôi nghĩ các bác sĩ nên nghiên cứu thêm trước khi cầm vào dao mổ”, ông nói. Dù vậy, Kennedy vẫn tiếp tục phẫu thuật thêm hai lần nữa trong nỗ lực vô vọng nhằm giảm cơn đau.

Suýt mất mạng

sat-thu-vo-hinh-am-anh-cuoc-doi-jonh-f-kennedy-1

Tấm kim loại sử dụng để nối các đốt sống của Kennedy trong cuộc phẫu thuật năm 1954. Ảnh: CNN.

Cuộc phẫu thuật tiếp theo của Kennedy diễn ra vào tháng 10/1954, khiến ông suýt mất mạng. Sau khi một tấm kim loại được chèn vào phần lưng dưới của ông để nối đốt sống lưng, ông bị nhiễm trùng đường tiết niệu.

Ông bệnh nặng đến nỗi gia đình đã gọi một linh mục đến để chuẩn bị cử hành những nghi lễ cuối cùng. Đây là lần thứ hai họ gọi linh mục đến. Một mục sư đã được mời tới vào năm 1947 lúc Kennedy bị chẩn đoán mắc bệnh Addison (suy tuyến thượng thận nguyên phát), gây ra mệt mỏi, yếu cơ, giảm cân, đau bụng, tương tự những căn bệnh thời thơ ấu của ông.

Bệnh Addison làm tăng thêm rủi ro phẫu thuật nhưng bất chấp nguy hiểm, Kennedy một lần nữa đòi lên bàn mổ. Thời điểm ấy, ông đang là thượng nghị sĩ và sử dụng nạng gần như mọi lúc để đi lại. Bà Rose Kennedy, mẹ ông, viết trong hồi ký: “Jack nhất quyết phẫu thuật. Jack nói với cha mình rằng thậm chí nếu rủi ro là 50/50, Jack thà chết còn hơn sống phần đời còn lại mà phải đi tập tễnh trên đôi nạng và bị tê liệt bởi cơn đau”.

Không may, Kennedy không hồi phục hoàn toàn sau ca phẫu thuật nối đốt sống lưng. Ông bị nhiễm khuẩn tụ cầu và nó đã tạo ra “một lỗ hở to trông rất ghê”, theo Ted Sorenson, trợ lý viết diễn văn của Kennedy.

Sức khỏe cải thiện nhờ các mũi tiêm

Đến tháng 2/1955, Kennedy trở lại bệnh viện để tiến hành cuộc phẫu thuật lấy tấm kim loại ra. “Ông ấy cũng giống như nhiều người Mỹ bị mắc chứng đau lưng kinh niên, tìm kiếm mọi giải pháp để giải quyết cơn đau, giúp họ có thể tiếp tục công việc thường ngày”, Pait nói.

Thực tế, giải pháp tiếp theo của Kennedy sau các cuộc phẫu thuật là quay sang sử dụng các mũi tiêm, đưa vào cơ thể một chất có tên gọi procaine, phiên bản tương tự thuốc gây tê lidocaine, ngăn các tín hiệu thần kinh đến não bộ.

Theo Pait và Dowdy, Kennedy đã sử dụng hàng trăm, nếu không muốn nói là hàng nghìn mũi tiêm như vậy, trong suốt 4 năm sau đó. Giải pháp này cùng với việc luyện tập và sử dụng áo nẹp đã cải thiện đáng kể chứng đau lưng của ông.

Tuy nhiên, cuộc vận động tranh cử tổng thống năm 1960 một lần nữa làm ông sa sút sức khỏe. Nhưng Kennedy đã được giải thoát cơn đau dưới bàn tay của bác sĩ Max Jacobson, người có các biệt danh là “Max thần kỳ”.

Jacobson nổi tiếng nhờ tiêm cho các bệnh nhân của ông một hỗn hợp pha chế dựa trên amphetamine, một loại thuốc làm tăng tỉnh táo và tập trung.

“Công thức bí mật này được cho là có chất methamphetamine trong đó. Ông ấy tiêm nó cho Kennedy và nó làm tổng thống thấy vui vẻ, tinh thần lạc quan và ông ấy không cảm thấy đau nữa”, Pait nói.

Kennedy được cho là đã nhận một mũi tiêm từ Jacobson ngay trước cuộc tranh luận nổi tiếng giữa ông với Richard Nixon và ba mũi tiêm như vậy nữa trong ngày đầu tiên tại hội nghị thượng đỉnh Vienna với lãnh đạo Liên Xô Nikita Khrushchev.

Cuối năm 1961, việc tổng thống sử dụng các mũi tiêm này gây nhiều lo ngại đến nỗi Chuẩn đô đốc George Burkley, người được bổ nhiệm làm bác sĩ trị liệu Nhà Trắng từ thời Eisenhower, phải trực tiếp giám sát việc chăm sóc sức khỏe cho ông Kennedy.

Burkley đã mang đến Nhà Trắng một bác sĩ mới tên Hans Kraus, người mà ngày nay được xem là cha đẻ của các loại thuốc tăng cường sinh lực. Kraus tin rằng phần lớn cơn đau lưng khởi nguồn từ các cơ suy yếu. Dưới sự hướng dẫn của Kraus, Kennedy đã theo một chế độ tập luyên bao gồm cử tạ, bơi, mát xa và trị liệu bằng nhiệt. Kraus bắt đầu tìm cách gỡ áo nẹp lưng của Kennedy.

sat-thu-vo-hinh-am-anh-cuoc-doi-jonh-f-kennedy-2

John F. Kennedy mặc áo nẹp trong người khi ông bị ám sát ở Dallas vào ngày 22/11/1963. Ảnh: Library of Congress.

Gần như ngay lập tức, cách tiếp cận mới đã mang lại những lợi ích rõ rệt và Kennedy đang trên đà hồi phục từ cơn đau lưng, có lẽ là lần đầu tiên trong cuộc đời. Thế nhưng vào tháng 8/1963, chỉ ít tháng trước chuyến thăm Dallas, Kennedy thấy căng cứng lưng và ông bắt đầu sử dụng áo nẹp trở lại, bất chấp các lo ngại của bác sĩ.

“Kennedy nói với Kraus: ‘Này, tôi hứa với ông rằng sau khi từ Dallas trở về, tôi sẽ cởi bỏ chiếc áo nẹp nhưng tôi phải mặc nó cho chuyến đi. Tôi cần phải trông thật khỏe mạnh’. Ông ấy muốn có thể ngồi thẳng và vẫy tay chào mọi người. Và tất nhiên, chúng ta sẽ không bao giờ biết liệu ông có thể sống sót không nếu nghe theo lời khuyên của bác sĩ, vứt bỏ cái áo nẹp”, Pait cho hay.

Hồng Vân

Nguồn Tại Đây

Please follow and like us:

Comments

comments

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Facebook